Ngày 26 tháng 01 năm 2026 tàu sân bay USS Abraham Lincoln được đưa vào vùng biển Ả Rập gần Iran để tăng hiện diện quân sự và gây áp lực. Đi kèm với tàu sân bay này là các tàu khu trục tên lửa dẫn đường khác để bảo vệ đội hình. Như vậy lực lượng Mỹ ở bên ngoài biển đã dày hơn trước đó và tư thế này được Washington cho là để sẵn sàng cho nhiều lựa chọn.
Gần đây nhất vào ngày 03 tháng 02 năm 2026, một chiếc máy bay chiến đấu F-35C của Mỹ đã bắn hạ một chiếc drone của Iran khi nó tiến gần tàu sân bay USS Abraham Lincoln trên biển Ả Rập. Người Mỹ nói hành động này là để bảo vệ tàu và quân nhân vì drone tiến lại rất gần trong lúc mục đích chưa rõ ràng. Cũng trong cùng ngày, lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran đã tiếp cận một tàu chở hàng treo cờ Mỹ M/V Stena Imperative ở Eo biển Hormuz, khiến tàu khu trục USS McFaul phải hộ tống tàu hàng rời khỏi vùng nguy hiểm. Những diễn biến này cho thấy căng thẳng đã không chỉ nằm trên giấy tờ mà đã lan sang cả không trung và vùng biển rất gần tuyến đường vận tải chiến lược.
Ngoài ra thì Mỹ cũng không đứng yên ở mức đó. Hải quân Mỹ đã tăng cường bố trí thêm tàu khu trục USS Delbert D. Black tới khu vực để gia tăng hiện diện cùng đội hình tàu sân bay. Theo các nguồn tin công khai thì tổng số lực lượng Mỹ ở ngoài biển hiện tại gồm ít nhất 1 tàu sân bay, 6 tàu khu trục, và nhiều tàu chiến ven bờ khác.
Khơi mào cho những động thái này là tình hình căng thẳng giữa Mỹ và Iran đang lên cao từ trước đó. Iran cũng có tín hiệu nhắc tới các buổi tập trận hải quân và cảnh báo nếu Mỹ tấn công thì họ sẽ phản ứng mạnh mẽ hơn. Đó là bối cảnh khiến các lực lượng Mỹ đang duy trì tư thế mạnh mẽ ở rất gần khu vực Iran để vừa bảo vệ con tàu và binh sĩ, vừa chuẩn bị cho mọi kịch bản có thể xảy ra.

Vì sao Mỹ muốn đánh Iran
Mỹ cần duy trì cảm giác nguy cơ bên ngoài để giữ cho hệ thống quyền lực và liên minh của mình không rơi vào trạng thái suy yếu dần theo thời gian. Khi Nga và Trung Quốc đều là đối thủ dài hạn nhưng khó tạo ra một cuộc đối đầu trực diện trong ngắn hạn, Washington cần một hồ sơ có thể tạo ra áp lực liên tục mà chi phí chính trị đối nội không quá cao. Iran rơi đúng vào vị trí đó. Quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Iran rất hạn chế. Như vậy khi Mỹ gia tăng áp lực với Iran, tác động ngược trở lại nền kinh tế Mỹ không quá lớn. Có thể hiểu đơn giản là chọn một mục tiêu gây ít tổn hại trực tiếp tới hệ thống lợi ích trong nước.
Tiếp theo là ngân sách và hệ sinh thái quốc phòng. Khi Mỹ bước vào giai đoạn tranh luận ngân sách căng thẳng kéo dài, việc duy trì cảm giác rủi ro an ninh giúp quá trình thông qua chi tiêu quân sự trở nên dễ dàng hơn. Thực ra đây là logic vận hành của một hệ sinh thái kinh tế có hàng triệu lao động phụ thuộc vào chuỗi sản xuất quốc phòng. Khi môi trường địa chính trị được đặt trong trạng thái bất ổn kéo dài, Quốc hội có xu hướng chấp nhận phân bổ ngân sách cho quốc phòng trong trạng thái ít phản đối hơn. Như vậy căng thẳng với Iran tạo ra một bối cảnh thuận lợi để duy trì nhịp chi tiêu quân sự dài hạn.
Nguyên nhân thứ ba liên quan tới quản trị dư luận trong nước. Đôi khi Nhà Trắng đối diện với các tranh cãi nội bộ kéo dài về ngân sách nhập cư hay bất đồng giữa các đảng phái. Khi một điểm nóng bên ngoài được đẩy lên, dư luận và truyền thông có xu hướng chuyển sự chú ý sang câu chuyện an ninh quốc gia. Như vậy áp lực tranh cãi trong nước có thể giảm xuống trong ngắn hạn. Thực ra đây không phải là thủ thuật mới. Đây là một cách quản trị nhịp chú ý của xã hội trong những giai đoạn nội bộ xuất hiện mâu thuẫn khó xử lý nhanh.
Sau cùng là liên quan tới dòng tiền toàn cầu. Khi Mỹ giữ vai trò chủ động trong nhịp căng thẳng ở Hormuz, Washington không chỉ gây áp lực trực tiếp lên Iran. Washington còn gián tiếp tác động lên kỳ vọng giá năng lượng của thế giới. Khi giá năng lượng biến động mạnh hơn, nhiều nền kinh tế phải điều chỉnh chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa theo. Như vậy hồ sơ Iran không chỉ là hồ sơ an ninh thuần túy. Hồ sơ Iran trở thành một biến số trong cách dòng tiền toàn cầu phân bổ giữa tài sản trú ẩn tài sản năng lượng và tài sản rủi ro.
Vì sao Mỹ tạm hoãn chiến dịch Iran 2 tuần
Trước hết nói về giai đoạn ngân sách bị khóa nhịp bởi việc chính phủ tạm đóng cửa. U.S. House of Representatives để lỡ hạn thông qua các gói chi tiêu cần thiết. Điều này khiến một loạt cơ quan liên bang rơi vào trạng thái hết tiền hoạt động đúng hạn và dẫn tới tình trạng partial shutdown bắt đầu từ cuối tuần. Theo mô tả của Reuters thì Pentagon Transportation và nhiều cơ quan khác hết hạn tài trợ từ thứ Bảy.
Mức gián đoạn được đánh giá là chưa quá nghiêm trọng vì các lực lượng thiết yếu vẫn tiếp tục làm việc. Tuy vậy nhìn về mặt chính trị và điều hành liên ngành thì trạng thái này tạo ra bối cảnh chưa ổn định. Khi bộ máy điều hành còn phải xử lý việc mở cửa trở lại từng phần thì rất khó đưa ra quyết định cho một chiến dịch quân sự quy mô lớn kéo dài nhiều tuần nhiều tháng. Có thể hiểu đơn giản là hệ thống còn đang bận xử lý việc trong nhà nên chưa thể dồn toàn lực cho một cuộc leo thang bên ngoài.
Tiếp theo nói về giai đoạn hiện tại khi dòng tiền ngân sách đã được mở lại nhưng vẫn còn một mắt xích treo. Ngày 03 tháng 02 năm 2026 Donald Trump ký gói chi tiêu khoảng 1.2 nghìn tỷ USD để kết thúc tình trạng partial shutdown. Như vậy trục vận hành chung của chính phủ đã được khơi thông trở lại. Tuy nhiên Department of Homeland Security chỉ được cấp ngân sách trong thời hạn ngắn khoảng hai tuần.
Điều này có nghĩa là tranh cãi nội bộ về ngân sách và chính sách an ninh nội địa vẫn chưa khép lại hoàn toàn. Khi một mắt xích quan trọng còn treo như vậy thì Nhà Trắng khó đưa ra quyết định đặt cược toàn bộ nguồn lực cho một cuộc leo thang quân sự kéo dài. Nhìn chung quyết định lớn thường chỉ được đưa ra khi các điểm nghẽn nội bộ đã được xử lý tương đối gọn gàng.
Ngoài ra trục ngân sách quốc phòng cũng đã được kéo về đúng nhịp. Hạ viện thông qua dự luật chi tiêu quốc phòng khoảng 839 tỷ USD. Điều này giúp hệ thống quốc phòng có cơ sở pháp lý và tài chính rõ ràng hơn cho việc duy trì tư thế lực lượng ở khu vực Trung Đông.
Như vậy khác với giai đoạn vừa qua khi ngân sách còn treo lơ lửng thì hiện tại năng lực duy trì hiện diện quân sự đã có nền tảng vững hơn. Tuy vậy việc DHS chỉ được gia hạn ngắn hạn vẫn là một yếu tố làm Nhà Trắng phải cân nhắc kỹ về thời điểm và cường độ leo thang.
Dòng tiền trước giờ G ra sao
Dầu

Trước hết nói về dầu. Ngày 03 tháng 02 năm 2026 giá Brent quanh 67.33 USD và WTI quanh 63.21 USD sau khi tăng khoảng 2 phần trăm theo tin drone và căng thẳng hàng hải. Như vậy thị trường đã cộng phụ phí chiến tranh vào giá dầu ngay lập tức.
Tiếp theo nói về lực đẩy từ dữ liệu kho. Cùng thời điểm đó Reuters ghi nhận số liệu từ API cho thấy tồn kho dầu thô Mỹ giảm hơn 11 triệu thùng. Điều này làm giá dầu có thêm lực đẩy ngoài yếu tố địa chính trị. Nhìn chung đây là trạng thái vừa có tin căng thẳng vừa có dữ liệu hỗ trợ giá.
Barclays trong báo cáo ngày 13 tháng 01 năm 2026 ước tính bất ổn liên quan tới Iran có thể cộng thêm khoảng 3 tới 4 USD mỗi thùng vào phụ phí rủi ro. Như vậy phần tăng của giá dầu không chỉ là phản ứng cảm xúc. Phần tăng này đã được các tổ chức lớn đóng khung thành chi phí rủi ro có thể đo lường.
Sau đó là nghiệp vụ phòng vệ. Bloomberg mô tả thị trường quyền chọn dầu xuất hiện xu hướng trả premium cao hơn cho call options trong chuỗi dài nhất kể từ năm 2024 để phòng ngừa kịch bản căng thẳng leo thang. Như vậy các quỹ và desk giao dịch đã mua bảo hiểm rủi ro giá dầu tăng mạnh.
Về nghiệp vụ có thể hiểu đơn giản là các desk năng lượng mua call hoặc call spread để khóa rủi ro giá dầu tăng nhanh. Khi tin đàm phán xuất hiện trở lại và căng thẳng hạ nhiệt, họ bán bớt delta bằng hợp đồng tương lai để hạ rủi ro danh mục. Như vậy đây là cách mua bảo hiểm khi sợ kịch bản xấu và đóng dần bảo hiểm khi kịch bản xấu tạm lùi lại.
Vàng

Tiếp theo nói về vàng. Dòng tiền trú ẩn đã chảy qua ETF bằng con số rất cụ thể. Theo LSEG Lipper trong tháng 01 năm 2026 nhóm ETF kim loại quý nhận khoảng 4.39 tỷ USD dòng tiền vào. Đây là tháng thứ tám liên tiếp có dòng tiền vào. Cùng tháng đó nhóm ETF cổ phiếu các công ty khai thác vàng nhận khoảng 3.62 tỷ USD dòng tiền vào. Đây là mức cao nhất ít nhất kể từ năm 2009.
Riêng SPDR Gold Shares nhận khoảng 2.58 tỷ USD dòng tiền vào trong tháng 01. Như vậy có thể hiểu đơn giản là nhà đầu tư tổ chức đã chọn vàng làm công cụ phòng vệ rủi ro địa chính trị trong giai đoạn căng thẳng tăng lên.
Đôi khi giá vàng điều chỉnh giảm trong ngắn hạn do các yếu tố kỹ thuật như CME Group nâng yêu cầu ký quỹ và câu chuyện nhân sự liên quan tới ghế Chủ tịch Fed của Kevin Warsh. Tuy vậy dòng tiền vào ETF cho thấy nhu cầu phòng vệ rủi ro vẫn duy trì. Nhìn chung vàng được dùng như công cụ giảm rủi ro sụt giảm danh mục khi tin tức địa chính trị trở nên dồn dập hơn.
Xem thêm: Cuộc đua vào ghế chủ tịch fed (phần 2) – Kevin Warsh
Quốc phòng

Tiếp theo là nhóm quốc phòng. Khi thông tin về khả năng ngân sách quân sự năm 2027 có thể tăng mạnh được đưa ra, dòng tiền theo chủ đề đã xoay sang nhóm defense. Reuters ghi nhận nhóm cổ phiếu quốc phòng toàn cầu tăng giá theo câu chuyện ngân sách.
Ngoài ra còn có các thương vụ cụ thể. Ví dụ ARK Invest của Cathie Wood được mô tả đã giải ngân khoảng 17.84 triệu USD vào nhóm cổ phiếu quốc phòng trong giai đoạn này. Như vậy dòng tiền không chỉ nằm ở câu chuyện vĩ mô. Dòng tiền đã đi vào các lệnh mua cụ thể của các quỹ lớn.
Về nghiệp vụ có thể hiểu đơn giản là các quỹ theo chủ đề và nhà quản lý chủ động xoay trọng tâm danh mục sang nhóm defense. Nhóm này có doanh thu gắn với ngân sách nhà nước nên được coi là hưởng lợi khi câu chuyện chi tiêu quân sự và rủi ro địa chính trị tăng lên.
