
Tin Nonfarm thực ra là cách gọi quen của thị trường cho cả báo cáo Employment Situation của BLS, chứ không phải chỉ có mỗi con số payroll. Báo cáo này thường được phát hành vào 8:30 sáng giờ New York, đa số rơi vào thứ Sáu đầu tiên của tháng, và nó ghép từ hai cuộc khảo sát khác nhau: khảo sát hộ gia đình để tính thất nghiệp và khảo sát doanh nghiệp để tính việc làm phi nông nghiệp, giờ làm và tiền lương.
Xem thêm: Hướng dẫn phân tích data Nonfarm HBFX
1) Nonfarm là gì
“Nonfarm Payrolls” là mức thay đổi số việc làm phi nông nghiệp giữa tháng hiện tại và tháng trước, lấy từ Establishment Survey. BLS nói rất rõ khảo sát này đo employment, hours, and earnings của lao động trong khu vực phi nông nghiệp. Nó không bao gồm một số nhóm như lao động nông nghiệp, tự doanh không hưởng lương theo payroll doanh nghiệp, lao động hộ gia đình tư nhân và một số nhóm khác theo phạm vi thống kê của CES.
Cái mà thị trường hay gọi là “Nonfarm ra tốt” thường mới chỉ là đang nói tới headline payroll change. Nhưng nếu chỉ nhìn đúng một dòng đó thì rất dễ đọc sai báo cáo. Vì cùng lúc, thị trường còn nhìn thêm thất nghiệp, tăng trưởng lương, số giờ làm, tỷ lệ tham gia lao động và cả các bản điều chỉnh tháng trước.
2) Báo cáo Nonfarm gồm hai khối dữ liệu lớn
Khối 1: Household Survey
Khối này dùng để tính:
– Tỷ lệ thất nghiệp
– Số người có việc
– Số người thất nghiệp
– Labor force participation rate
– Employment-population ratio
Đây là khảo sát hộ gia đình, dùng để đo labor force status, including unemployment, by demographic characteristics. Nói dễ hiểu, đây là nơi thị trường nhìn xem người dân có đang có việc hay không, có đang đi tìm việc hay không và tỷ lệ thất nghiệp biến động ra sao.
Khối 2: Establishment Survey
Khối này dùng để tính:
– Nonfarm Payrolls
– Average Hourly Earnings
– Average Weekly Hours
– Average Weekly Earnings
– Việc làm theo từng ngành
Establishment Survey đo nonfarm employment, hours, and earnings by industry. Đây là phần tạo ra headline “NFP +xxx nghìn việc làm”.
3) Bộ dữ liệu ra cùng thời điểm 8:30 của ngày Nonfarm
| Tên dữ liệu | Đo cái gì | Đọc mạnh/yếu như thế nào | Hàm ý chính với thị trường |
|---|---|---|---|
| Nonfarm Payrolls | Mức thay đổi số việc làm phi nông nghiệp từ Establishment Survey | Cao hơn kỳ vọng là lao động còn khỏe hơn. Thấp hơn kỳ vọng là nhu cầu tuyển dụng chậm lại. | Là headline đầu tiên tác động mạnh tới USD, lợi suất và futures chứng khoán |
| Unemployment Rate | Tỷ lệ thất nghiệp từ Household Survey | Giảm là thị trường lao động thắt chặt hơn. Tăng là lao động dịu lại hơn, nhưng phải nhìn thêm participation để tránh hiểu sai. | Ảnh hưởng mạnh tới kỳ vọng Fed và câu chuyện suy yếu hay không suy yếu của nền kinh tế |
| Labor Force Participation Rate | Tỷ lệ dân số trong lực lượng lao động | Tăng thường là tín hiệu tốt về nguồn cung lao động quay lại. Giảm có thể làm unemployment thấp giả tạo hơn. | Giúp giải thích vì sao thất nghiệp tăng hay giảm có thực sự tốt hay xấu |
| Employment-Population Ratio | Tỷ lệ người có việc trên dân số | Tăng cho thấy nền kinh tế hấp thụ lao động tốt hơn. Giảm cho thấy chất lượng nền lao động yếu đi. | Dùng để nhìn sức khỏe lao động theo lớp sâu hơn headline thất nghiệp |
| Average Hourly Earnings MoM/YoY | Tăng trưởng tiền lương theo giờ | Tăng mạnh là tín hiệu hawkish hơn vì áp lực lương còn dai dẳng. Tăng chậm lại là dịu hơn cho Fed. | Rất quan trọng với lợi suất, USD và vàng vì liên quan trực tiếp tới lạm phát dịch vụ |
| Average Weekly Hours | Số giờ làm việc trung bình mỗi tuần | Tăng thường cho thấy doanh nghiệp vẫn cần lao động. Giảm có thể là tín hiệu sớm của suy yếu trước khi cắt nhân sự. | Nhiều khi là tín hiệu sớm hơn payroll về hướng đi của thị trường lao động |
| Average Weekly Earnings | Thu nhập hàng tuần bình quân | Tăng nhờ lương và giờ làm cùng tăng là tích cực cho thu nhập hộ gia đình. Yếu đi là xấu cho cầu tiêu dùng. | Hữu ích khi nối từ lao động sang chi tiêu và tăng trưởng |
| Revisions 2 tháng trước | Điều chỉnh lại payroll các tháng đã công bố | Revision dương là xu hướng thật mạnh hơn nhìn bề ngoài. Revision âm là headline mới đẹp nhưng nền xu hướng có thể xấu hơn. | Đây là bẫy rất hay bị bỏ qua trong 30 giây đầu |
| Payroll theo ngành | Việc làm tăng giảm ở từng ngành như healthcare, construction, manufacturing, government | Tăng ở ngành chu kỳ như construction, manufacturing thường “chất lượng” hơn với câu chuyện tăng trưởng. Tăng chủ yếu ở government hay một vài ngành phòng thủ thì cần đọc kỹ hơn. | Giúp đánh giá chất lượng tăng trưởng việc làm |
| U-6 và các thước đo underutilization | Thất nghiệp mở rộng và lao động bị sử dụng chưa hết công suất | U-6 cao cho thấy thị trường lao động còn yếu hơn bề ngoài. U-6 giảm cho thấy độ chặt lao động lan rộng hơn. | Dùng để nhìn mặt chìm của lao động, nhất là khi U-3 trông có vẻ đẹp |
Đây là phần quan trọng nhất. Cùng lúc Nonfarm ra, thị trường thường đọc cả bó dữ liệu sau:
3.1 Headline Nonfarm Payrolls
Đây là số thay đổi việc làm phi nông nghiệp của tháng. Ví dụ báo cáo tháng 1/2026 cho biết payroll tăng 130,000. Đây là con số đầu tiên chạy trên màn hình Bloomberg, Reuters, futures, FX và bond desks.
3.2 Unemployment Rate
Đây là tỷ lệ thất nghiệp, lấy từ Household Survey. Báo cáo tháng 1/2026 cho thấy unemployment rate là 4.3%. Nhiều khi payroll tốt nhưng unemployment rate cũng tăng, và đó không hẳn là xấu, vì có thể nhiều người quay lại lực lượng lao động để tìm việc.
3.3 Labor Force Participation Rate
Đây là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động. Nó cho biết bao nhiêu người trong dân số đủ điều kiện đang đi làm hoặc đi tìm việc. Tháng 1/2026, tỷ lệ này là 62.5%. Nếu participation tăng mà thất nghiệp tăng nhẹ, thị trường thường đọc mềm hơn là một cú xấu thuần túy, vì cung lao động đang quay trở lại.
3.4 Employment-Population Ratio
Đây là tỷ lệ số người có việc trên dân số. Nó cho biết mức hấp thụ lao động của nền kinh tế tốt đến đâu. BLS công bố chỉ tiêu này trong cùng báo cáo hộ gia đình, và tháng 1/2026 là 59.8%.
3.5 Average Hourly Earnings
Đây là tăng trưởng tiền lương theo giờ của lao động khu vực tư nhân phi nông nghiệp. Tháng 1/2026, BLS cho biết average hourly earnings tăng 15 cent, tương đương 0.4% MoM, và tăng 3.7% YoY. Đây là một trong những dòng mà Fed và thị trường trái phiếu rất quan tâm vì nó phản ánh áp lực lương, tức mầm mống của lạm phát dịch vụ.
3.6 Average Weekly Hours
Đây là số giờ làm việc bình quân mỗi tuần. Tháng 1/2026, average workweek tăng lên 34.3 giờ. Chỉ số này rất quan trọng vì doanh nghiệp thường tăng giờ làm trước khi tuyển thêm người, và giảm giờ làm trước khi cắt nhân sự. Vì vậy đôi khi giờ làm là tín hiệu sớm hơn payroll.
3.7 Average Weekly Earnings
Dòng này kết hợp tác động của lương theo giờ và số giờ làm việc. Nó giúp nhìn tổng thu nhập lao động hàng tuần đang cải thiện hay suy yếu. BLS công bố nó trong các bảng earnings kèm báo cáo Employment Situation.
3.8 Revisions của 2 tháng trước
Đây là phần rất hay bị bỏ sót. Mỗi báo cáo Nonfarm thường điều chỉnh lại dữ liệu của hai tháng trước đó. Tháng 1/2026 còn kèm một đợt benchmark lớn làm thay đổi đáng kể bức tranh tăng trưởng việc làm năm 2025. Điều này có nghĩa là headline tháng mới đẹp chưa chắc bức tranh xu hướng đã đẹp, nếu các tháng trước bị sửa xuống mạnh.
3.9 Việc làm theo ngành
BLS công bố rất rõ việc làm tăng hay giảm ở:
– Healthcare
– Government
– Leisure and hospitality
– Construction
– Manufacturing
– Transportation and warehousing
– Professional and business services
– Retail trade và nhiều ngành khác.
Đây là phần để thị trường nhìn chất lượng của tăng trưởng việc làm. Ví dụ việc làm tăng nhiều ở healthcare và government sẽ khác với tăng mạnh ở construction hay manufacturing.
3.10 U-6 và các chỉ tiêu lao động rộng hơn
Ngoài tỷ lệ thất nghiệp chính thức U-3, báo cáo còn có các thước đo rộng hơn như U-6, bao gồm thất nghiệp, người làm bán thời gian vì lý do kinh tế và một số nhóm gắn lỏng với thị trường lao động. Các bảng “Alternative measures of labor underutilization” nằm trong bộ dữ liệu Employment Situation.
4) Vì sao cùng một lúc lại tung cả bó dữ liệu này
Mục đích để thị trường có thể phân biệt giữa số lượng việc làm, chất lượng việc làm, thu nhập lao động và độ căng của thị trường lao động. Nếu chỉ tung headline payroll thì thị trường sẽ định giá quá đơn giản. Còn khi đi kèm unemployment rate, wages, hours, participation và revisions, desk lớn có thể trả lời sâu hơn:
– Nền kinh tế đang tạo việc làm thật hay chỉ đang nhiễu số liệu
– Cầu lao động còn nóng không
– Tiền lương có đang nuôi lạm phát dịch vụ không
– Doanh nghiệp đang tuyển người mới hay chỉ kéo dài giờ làm
– Xu hướng 3 tháng có thật sự mạnh hơn headline tháng này không
Cấu trúc này được BLS thiết kế trực tiếp qua hai khảo sát lớn trong cùng một báo cáo hàng tháng.
Một lưu ý rất quan trọng: benchmark và birth-death model
Khảo sát payroll không thể thấy ngay toàn bộ doanh nghiệp mới mở hay đóng cửa trong thời gian thực. BLS vì vậy dùng CES Net Birth-Death Model để ước tính phần doanh nghiệp sinh ra và mất đi chưa hiện đủ trong mẫu khảo sát. Ngoài ra, BLS còn làm benchmark revision định kỳ để đối chiếu với dữ liệu hồ sơ thuế thất nghiệp bang có độ bao phủ rộng hơn. Đây là lý do vì sao payroll có thể bị sửa khá mạnh về sau, nhất là gần điểm ngoặt chu kỳ.
