Bóng ma “Bát Quốc Liên Quân” trở lại: Sự thật tàn khốc phía sau cuộc khủng hoảng Hormuz!

Mối liên hệ giữa sự kiện Bát Quốc Liên Quân và khủng hoảng địa chính trị eo biển Hormuz
Mối liên hệ giữa sự kiện Bát Quốc Liên Quân và khủng hoảng địa chính trị eo biển Hormuz
unnamed 1 1 2

Hôm qua ECB, BoJ, Fed và Bank of England đồng loạt giữ nguyên lãi suất. Riêng phía Anh, MPC bỏ phiếu 9 trên 9 để không thay đổi lãi suất. Đây là chi tiết rất đáng chú ý, vì mức đồng thuận tuyệt đối là điều rất hiếm khi xảy ra.

Điều đáng nhìn ở đây không nằm ở chuyện “giữ lãi suất” theo nghĩa bề mặt. Điểm quan trọng hơn là 4 trung tâm tiền tệ lớn đều đang phát cùng một tín hiệu: chính sách tiền tệ đang bị địa chính trị thao túng và lãi suất không còn là công cụ giải quyết tận gốc nữa. Lúc đó ngân hàng trung ương chỉ còn hai việc: giữ ổn định kỳ vọng và mua thời gian cho chính phủ xử lý phần an ninh, năng lượng, vận tải và ngoại giao.

Gần như ngay lập tức sau đó là thông cáo từ UK Goverment (mình để dưới phần comment). Văn bản này không chỉ là lời lên án Iran. Văn bản này lên án các vụ tấn công vào tàu thương mại không vũ trang, gọi việc Iran trên thực tế đóng eo Hormuz là mối đe dọa với hòa bình và an ninh quốc tế, nhấn mạnh tự do hàng hải là nguyên tắc nền tảng của luật quốc tế, tuyên bố sẵn sàng đóng góp vào các nỗ lực bảo đảm lưu thông an toàn qua eo biển và hoan nghênh việc IEA tung dự trữ dầu chiến lược phối hợp. Khi một tuyên bố cùng lúc nói đến luật biển, hạ tầng dân sự, an ninh hàng hải, chuẩn bị bảo đảm lưu thông và bình ổn thị trường năng lượng thì đó không còn là lời nói ngoại giao thuần túy nữa.

Nó là tín hiệu cho thấy một khối các cường quốc công nghiệp và hàng hải đã bắt đầu “hợp tung” đó không còn là phản ứng ngoại giao đơn thuần nữa. Đó là phôi thai của một cấu trúc điều phối khủng hoảng.

Từ đây ngẫm đến chuyện Bát Quốc Liên Quân khi xưa. Năm 1900, các cường quốc kéo vào Bắc Kinh nhân danh cứu người và lập lại trật tự. Thực chất là cứu quyền tiếp cận và lập lại cơ chế khai thác. Năm 2026, họ chưa kéo quân vào đất liền nhưng đã bắt đầu nói cùng một giọng điệu về Hormuz, dầu dự trữ, tự do hàng hải và bình ổn thị trường năng lượng. Bề ngoài là luật quốc tế. Bên trong là quyền thu tô trên tuyến sống còn của thế giới. Khi những cường quốc biển bắt đầu đồng thanh nói về trật tự, điều họ thật sự đang bảo vệ thường không chỉ là hòa bình. Họ đang bảo vệ quyền ra giá cho phần còn lại của hành tinh.

1. Sự kiên Bát Quốc Liên Quân

Mối liên hệ giữa sự kiện Bát Quốc Liên Quân và khủng hoảng địa chính trị eo biển Hormuz
Mối liên hệ giữa sự kiện Bát Quốc Liên Quân và khủng hoảng địa chính trị eo biển Hormuz

Cuối thế kỷ 19, nhà Thanh đã suy yếu rất rõ. Sau các cuộc chiến tranh nha phiến, các hiệp ước bất bình đẳng, việc mở cảng cưỡng bức và sự hiện diện ngày càng dày của phương Tây cùng Nhật Bản, Trung Quốc lúc đó gần như bị xẻ thành từng vùng ảnh hưởng. Anh có Hong Kong và ảnh hưởng thương mại lớn. Pháp chen vào Hoa Nam. Đức lấy Thanh Đảo. Nga lấn sâu ở Mãn Châu. Nhật sau chiến tranh Giáp Ngọ thì nổi lên rất nhanh. Nói ngắn gọn, Trung Quốc vẫn còn cái vỏ chủ quyền nhưng bên trong đã bị các đế quốc cắm vòi vào kinh tế, đường sắt, cảng biển, thuế quan, truyền giáo và tài chính.

Trong bối cảnh đó xuất hiện Nghĩa Hòa Đoàn. Đây là phong trào dân gian mang màu sắc bài ngoại rất mạnh, chống giáo sĩ, chống người nước ngoài, chống ảnh hưởng phương Tây và chống cả tầng lớp trong nước bị xem là tay sai. Họ tin rằng Trung Quốc bị ngoại bang làm nhục, tài nguyên bị hút ra ngoài, xã hội bị đảo lộn, nên cần đứng dậy quét sạch ảnh hưởng ngoại quốc.

Ban đầu triều đình Mãn Thanh không hoàn toàn thống nhất thái độ. Có phe muốn dẹp, có phe muốn lợi dụng. Về sau, Từ Hi Thái Hậu và một bộ phận triều đình ngả sang hướng dung túng, thậm chí dựa vào phong trào này để chống lại sức ép từ bên ngoài. Đó là bước ngoặt rất lớn. Vì từ một cuộc nổi dậy dân gian, nó biến thành một cuộc đụng độ có màu sắc nhà nước.

Khi Nghĩa Hòa Đoàn cùng lực lượng thân triều đình tấn công người nước ngoài, giáo dân và đặc biệt là vây khu sứ quán ở Bắc Kinh, các cường quốc liền có cớ can thiệp quân sự trực tiếp. Từ đó hình thành Bát Quốc Liên Quân gồm Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật, Mỹ, Ý và Áo-Hung.

Họ đưa quân vào Thiên Tân rồi tiến về Bắc Kinh. Danh nghĩa là “giải cứu sứ quán”, “bảo vệ công dân”, “lập lại trật tự”. Nhưng thực chất không chỉ có vậy. Sau khi vào được Bắc Kinh, liên quân cướp bóc rất nặng, áp đặt trừng phạt rất sâu và buộc nhà Thanh ký Nghị định thư Tân Sửu năm 1901. Trung Quốc phải bồi thường chiến phí cực lớn, cho phép quân nước ngoài đồn trú, phá công sự và chấp nhận thêm nhiều ràng buộc làm suy yếu chủ quyền.

Đó là phần sự kiện bề mặt.

Nhưng nếu nhìn theo góc chính trị và kinh tế thì câu chuyện thật ra còn lạnh lùng hơn nhiều.

Bề mặt là “trấn áp bạo loạn”. Bên trong là “bảo vệ hệ thống khai thác”.

Phương Tây và Nhật lúc đó không chỉ đánh vì mấy nhà truyền giáo bị g.i.ết hay vì khu sứ quán bị vây. Những cái đó chỉ là ngòi nổ. Thứ họ thực sự bảo vệ là quyền tiếp cận thị trường Trung Quốc, các tuyến thương mại, các nhượng địa, các khoản cho vay, các đặc quyền đường sắt, mỏ, cảng biển và khả năng ép triều đình Thanh tiếp tục mở cửa. Nói trắng ra, Trung Quốc khi đó không chỉ là một quốc gia. Nó là một kho tài sản khổng lồ đang bị nhiều cường quốc cùng lăm le chiếm hữu.

Một đế chế đang suy yếu, dân số rất lớn, thị trường tiêu dùng rất rộng, tài nguyên rất dồi dào, bộ máy trung ương lại yếu, quân sự lạc hậu, tài chính công kiệt quệ. Với các đế quốc công nghiệp thời đó, đây gần như là miếng mồi quá béo để bỏ qua. Cho nên khi Nghĩa Hòa Đoàn nổi lên, họ không chỉ thấy một cuộc nổi loạn. Họ thấy một nguy cơ làm gián đoạn quyền bóc tách lợi ích mà họ đã cắm rễ vào đó nhiều năm.

Nói “bảo vệ văn minh” nghe sang hơn nhiều so với nói “bảo vệ cảng biển, đường sắt, tín dụng và dòng tiền”. Nói “giải cứu công dân” dễ hơn nhiều so với nói “nếu để phong trào bài ngoại lan rộng thì toàn bộ mô hình kiếm tiền ở Trung Quốc sẽ bị đe dọa”. Thời nào cũng vậy thôi. Đại bác luôn đi sau một bản tuyên bố đạo lý. Nhưng phía sau bản tuyên bố đạo lý thường là sổ sách kế toán. Tức là súng ống mở đường cho các hợp đồng. Quân đội dọn mặt bằng cho tài chính. Chính trị tạo ra tính chính danh cho kinh tế. Còn kinh tế nuôi ngược lại sức mạnh chính trị.

Bình thường họ cạnh tranh với nhau rất dữ. Anh ghét Nga. Nga kỵ Nhật. Đức ganh Anh. Pháp đầy toan tính riêng. Nhưng khi cái bánh Trung Quốc có nguy cơ bị dân bản địa lật bàn, các cường quốc đột nhiên tìm được tiếng nói chung. Đây là chỗ rất đáng suy ngẫm. Những đối thủ có thể đánh nhau về lợi ích phân chia, nhưng họ sẽ nhanh chóng hợp tác khi có nguy cơ cả hệ thống khai thác cùng bị đe dọa. Đó là logic đế quốc rất cũ.

Xem thêm: 5 bước tư duy phân tích dòng tiền khi thế giới xảy ra biến cố Địa chính trị

2. Từ Trung Quốc năm xưa đến Hormuz hôm nay

Lịch sử chiến tranh thế giới thường diễn ra theo đúng trình tự sau:

Bước 1 là xây dựng câu chuyện đạo lý: bảo vệ dân sự, bảo vệ luật quốc tế, bảo vệ tự do lưu thông.

Bước 2 là tạo sự đồng thuận chính trị giữa các nước có lợi ích liên quan.

Bước 3 mới là điều phối hậu cần, năng lượng, tài chính và nếu cần thì cả an ninh quân sự.

Bước đầu tiên luôn là dựng chính danh. Nói dễ hiểu là phải có một câu chuyện đủ hợp lý để công chúng trong nước chấp nhận, đồng minh dễ đi cùng và thị trường tài chính không phản ứng theo hướng hoảng loạn. Vì vậy nên ngôn ngữ ở giai đoạn đầu thường xoay quanh bảo vệ dân sự, bảo vệ hạ tầng thiết yếu, bảo vệ luật quốc tế, bảo vệ tự do hàng hải và ngăn khủng hoảng nhân đạo lan rộng. Tuyên bố ngày 19/3/2026 đi rất đúng theo hướng này khi nhấn mạnh các vụ tấn công vào tàu thương mại không vũ trang, hạ tầng dân sự, nguy cơ với chuỗi cung ứng năng lượng và nguyên tắc tự do lưu thông trên biển. Như vậy, phần đầu của câu chuyện không nhằm giải quyết ngay vấn đề quân sự. Nó nhằm tạo nền chính danh trước.

Tại sao phải làm bước này trước. Vì trong thời đại hiện nay, không một chính phủ lớn nào dễ dàng kéo dài can dự nếu chưa hợp thức hóa được lý do. Công chúng cần nghe một lý do có tính đạo lý. Đồng minh cần nghe một lý do có tính pháp lý. Còn thị trường thì cần nghe một lý do có tính ổn định. Nếu chưa có ba lớp đó, mọi bước tiếp theo đều rất dễ bị phản đối hoặc bị hiểu là leo thang vô cớ. Có thể hiểu đơn giản là trước khi hành động, họ phải làm cho câu chuyện trở nên “đúng” trong mắt những người sẽ trả giá chính trị, trả giá tài khóa và chịu rủi ro thị trường. Phần này là suy luận cơ chế từ cách nội dung tuyên bố được xây dựng và cách các cuộc can dự quốc tế thường được trình bày.

Bước thứ hai là tạo đồng thuận chính trị giữa các nước có lợi ích liên quan. Đây là khâu rất quan trọng vì nếu chỉ có một nước lên tiếng thì câu chuyện vẫn mang màu sắc đơn phương. Nhưng khi nhiều nước cùng ký tên, cùng dùng một hệ ngôn ngữ và cùng nhấn mạnh vào một số nguyên tắc giống nhau, thì câu chuyện bắt đầu chuyển từ quan điểm quốc gia sang quan điểm của một khối lợi ích. Tuyên bố ngày 19/3/2026 không chỉ có Anh mà còn có Pháp, Đức, Italy, Hà Lan, Nhật Bản và Canada. Điều đó cho thấy đây không còn là phản ứng biệt lập. Nó là quá trình kết nối lợi ích giữa các nước phụ thuộc vào vận tải biển, năng lượng và ổn định thương mại quốc tế.

Phần đồng thuận này có giá trị rất lớn ở ba mặt. Thứ nhất là chia sẻ tính chính danh, tức là giảm cảm giác một nước đang tự cho mình quyền quyết định thay phần còn lại. Thứ hai là chia sẻ trách nhiệm chính trị, nghĩa là nếu có phản ứng trong nước hay phản ứng từ bên ngoài thì gánh nặng không đổ hết lên một chính phủ duy nhất. Thứ ba là chuẩn bị cho chia sẻ chi phí thực tế về sau, từ chi phí năng lượng, chi phí dự trữ dầu, chi phí bảo vệ vận tải cho đến chi phí hỗ trợ các nước bị ảnh hưởng. Như vậy, đồng thuận chính trị không chỉ là ký tên cho đẹp. Nó là bước gom lực lượng và chia trách nhiệm trước khi bước vào giai đoạn triển khai thật. Đây là suy luận về chức năng của đồng thuận liên quốc gia, dựa trên bản chất của các tuyên bố chung và nội dung cụ thể trong tuyên bố Hormuz.

Sau khi có chính danh và có đồng thuận, bước thứ ba mới là điều phối hậu cần, năng lượng, tài chính và nếu cần thì cả an ninh quân sự. Đây là đoạn mà nhiều người thường bỏ qua vì nó không ồn ào bằng phần phát biểu. Nhưng thực ra đây mới là phần quyết định xem khối đó có thật sự nghiêm túc hay không. Trong tuyên bố ngày 19/3/2026, các nước đã không chỉ dừng ở câu chữ lên án. Họ nói tới việc sẵn sàng ủng hộ các nỗ lực bảo đảm lưu thông an toàn qua eo biển, hoan nghênh việc phối hợp giải phóng dự trữ dầu chiến lược và cam kết tiếp tục ổn định thị trường năng lượng. Đây chính là dấu hiệu cho thấy câu chuyện đã bắt đầu chạm vào tầng vận hành thực tế.

Khi đã đi đến bước này thì ý nghĩa thay đổi hẳn. Lúc đó vấn đề không còn là “chúng ta phản đối điều gì” nữa. Mà là “chúng ta sẽ tổ chức lại hệ thống ra sao để giữ cho nó tiếp tục vận hành”.

Bây giờ quay lại Bát Quốc Liên Quân. Theo Britannica, Nghĩa Hòa Đoàn ban đầu là phong trào bài ngoại xuất phát từ dân gian, sau đó được triều đình Thanh ủng hộ. Khi tình hình leo thang và người nước ngoài bị tấn công, nhiều nước đã đưa quân vào, chiếm Bắc Kinh vào tháng 8/1900 và sau đó kết thúc bằng Boxer Protocol năm 1901. Nếu chỉ nhìn bề mặt thì đây là câu chuyện dẹp loạn và cứu sứ quán. Nhưng nếu nhìn theo cơ chế thì cũng có đúng ba tầng. Đầu tiên là dựng lý do chính danh xoay quanh bảo vệ người nước ngoài và lập lại trật tự. Sau đó là gom các cường quốc có lợi ích ở Trung Quốc thành một liên quân. Và cuối cùng mới là triển khai quân sự, áp đặt điều kiện, bồi thường và tái cấu trúc cán cân quyền lực theo hướng có lợi cho bên can thiệp.

Điểm khác giữa năm 1900 và năm 2026 nằm ở ngôn ngữ và bối cảnh quốc tế, chứ không nằm nhiều ở logic quyền lực. Thời Bát Quốc Liên Quân, ngôn ngữ đế quốc còn hiện ra khá trực diện. Cường quốc mạnh thì can thiệp, áp đặt và thu lợi ích theo kiểu rất rõ ràng. Còn hôm nay, hệ thống quốc tế đã có luật pháp, có truyền thông toàn cầu, có thị trường tài chính liên kết rất sâu và có dư luận nội bộ phức tạp hơn nhiều. Vì vậy nên cùng một logic can dự nhưng phải được diễn đạt mềm hơn, hợp pháp hơn và có vẻ đa phương hơn. Nói cách khác, cái áo bên ngoài thay đổi, còn bộ khung vận hành thì vẫn giữ nhiều điểm tương đồng. Đây là nhận định mang tính suy luận lịch sử của tôi, không phải sự đồng nhất tuyệt đối giữa hai thời kỳ.

Điểm quan trọng nhất trong phần so sánh này là chữ “hợp pháp hóa”. Muốn can thiệp lâu dài thì trước tiên phải hợp pháp hóa câu chuyện trước công chúng và trước thị trường. Công chúng cần thấy đây là việc có lý do chính đáng. Thị trường cần thấy đây là một quá trình có tổ chức, không phải hành động bộc phát. Khi câu chuyện đã được hợp pháp hóa, nhà nước mới có không gian để huy động nguồn lực, điều phối đồng minh và chấp nhận chi phí kéo dài. Vì vậy nên nhiều người tưởng tuyên bố chung chỉ là ngoại giao. Nhưng thực ra nó thường là bước mở màn cho quyền lực vận hành theo cách bền hơn, sâu hơn và có chuẩn bị hơn. Phần này là kết luận phân tích từ hai trường hợp anh đang so sánh.

Nếu kéo về ngôn ngữ thị trường thì có thể hiểu đơn giản là thế này. Trước khi có dòng tiền thật, luôn phải có narrative. Trước khi có điều phối thật, luôn phải có chính danh. Trước khi có can dự dài hơi, luôn phải có đồng thuận. Như vậy, tuyên bố ngày 19/3/2026 quan trọng không chỉ vì nội dung của nó, mà vì nó cho thấy quá trình chính danh hóa và gom đồng thuận đã bắt đầu. Còn Bát Quốc Liên Quân là ví dụ lịch sử cho thấy khi quá trình đó hoàn tất, phần triển khai thực tế có thể đi rất xa.

3. Thế giới sẽ đi về đâu?

Câu chuyện này không chỉ dừng ở chiến sự hay giá dầu nữa. Nó có thể kéo cả thế giới bước sang một giai đoạn chuyển trục quyền lực mới:

Kịch bản đầu tiên là Hormuz không bị khóa hoàn toàn, nhưng bị giữ trong trạng thái bất an kéo dài. Tức là dầu vẫn đi qua, tàu vẫn chạy, hàng hóa vẫn lưu thông, nhưng mọi thứ đều phải gánh thêm một lớp chi phí phòng vệ. Phí bảo hiểm cao hơn. Giá cước vận tải cao hơn. Premium năng lượng cao hơn. Như vậy, thế giới không rơi vào đổ vỡ ngay lập tức nhưng bị kéo vào một trạng thái hao mòn kéo dài. Điều đáng sợ ở đây là bề ngoài nhìn vẫn có vẻ ổn, nhưng bên trong thì lạm phát được nuôi trở lại từng chút một, tăng trưởng bị bào mòn từng chút một và ngân hàng trung ương bị khóa tay từng chút một. Nói cách khác, đây là kiểu khủng hoảng không làm thị trường ngã gục ngay mà làm cả hệ thống suy yếu dần trong im lặng.

Kịch bản thứ hai là phương Tây và các đồng minh không chỉ muốn xử lý khủng hoảng, mà tận dụng luôn khủng hoảng để dựng lại vai trò bảo trợ toàn cầu của mình. Tức là sau nhiều năm tăng trưởng chậm hơn, nợ công cao hơn và dư địa chính sách mỏng hơn, họ có thể đang cần một lý do đủ lớn để tái hợp thức hóa vai trò dẫn dắt. Khi đó Hormuz trở thành điểm hội tụ rất thuận lợi. Vì chỉ cần nắm được câu chuyện bảo vệ tự do hàng hải, ổn định năng lượng và bảo vệ thương mại quốc tế, họ có thể quay trở lại vị trí người bảo đảm trật tự. Như vậy, khủng hoảng không chỉ là nguy cơ. Nó còn là cơ hội chính trị. Cơ hội để gom đồng minh. Cơ hội để dựng lại tính chính danh. Cơ hội để nhắc cho phần còn lại của thế giới rằng hệ thống này vẫn cần một nhóm nước đứng ra giữ cho nó vận hành.

Đi xa hơn nữa, đó là thế giới sẽ bị kéo về mô hình “an ninh hóa toàn bộ chuỗi giá trị”. Trước đây người ta nói nhiều về hiệu quả, tối ưu chi phí, toàn cầu hóa và phân công quốc tế. Nhưng nếu một eo biển có thể khiến cả hệ thống run rẩy như vậy, thì từ nay logic cũ sẽ không còn giữ vị trí trung tâm nữa. Các nước sẽ chấp nhận nhập hàng đắt hơn để đổi lấy nguồn cung an toàn hơn. Các doanh nghiệp sẽ chấp nhận tồn kho lớn hơn để đổi lấy khả năng chống sốc tốt hơn. Các chính phủ sẽ chấp nhận chi tiêu nhiều hơn để đổi lấy quyền tự chủ chiến lược cao hơn. Tóm lại, thế giới sẽ đi về hướng đắt đỏ hơn, phòng vệ hơn và phân mảnh hơn. Đây không chỉ là biến động ngắn hạn. Đây có thể là quá trình viết lại cả triết lý vận hành của kinh tế toàn cầu.

Một khả năng khác là sự kiện này sẽ đẩy các ngân hàng trung ương vào vai trò thứ yếu trong một thời gian dài. Bình thường, thị trường luôn nhìn vào Fed, ECB, BoE hay BoJ để đo hướng đi của hệ thống. Nhưng nếu rủi ro cốt lõi nằm ở tuyến biển, ở năng lượng và ở an ninh chuỗi cung ứng, thì lãi suất sẽ không còn là biến số quyết định tuyệt đối nữa. Khi đó, một tuyên bố từ chính phủ, một động thái điều quân, một thay đổi trong bảo hiểm hàng hải hay một thỏa thuận năng lượng sẽ có sức nặng lớn hơn cả một cuộc họp chính sách tiền tệ. Như vậy, nếu đi theo hướng này, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn mà địa chính trị giành lại quyền chi phối từ tay kinh tế. Và đó là một thay đổi rất lớn, vì suốt nhiều năm qua thị trường đã quen sống trong quỹ đạo mà ngân hàng trung ương là trung tâm.

Kịch bản điên rồ hơn nữa là từ Hormuz, các cường quốc bắt đầu công khai hóa một tư duy rất cũ nhưng nay được bọc bằng lớp ngôn ngữ mới. Tư duy đó là tuyến nào sống còn với hệ thống thì tuyến đó phải nằm dưới sự bảo hộ của một khối quyền lực đủ mạnh. Nói trực diện hơn, họ có thể không chỉ muốn giữ cho dầu được lưu thông. Họ còn muốn giữ quyền quyết định ai được bảo vệ, ai được ưu tiên, ai phải trả thêm chi phí và ai phải chấp nhận luật chơi mới. Nếu vậy thì vấn đề không còn là chiến tranh hay hòa bình đơn thuần. Vấn đề trở thành quyền định giá rủi ro toàn cầu. Ai nắm được quyền đó sẽ không chỉ ảnh hưởng tới giá dầu. Họ còn ảnh hưởng tới trái phiếu, tới đồng tiền, tới dòng vốn và tới cả kỳ vọng tăng trưởng của thế giới.

Khủng hoảng này có thể trở thành lý do để dựng lại một dạng trật tự hàng hải hiện đại, nơi các cường quốc biển quay lại nắm vai trò trung tâm không phải bằng cách chiếm đất như thời cũ, mà bằng cách kiểm soát luật, kiểm soát hành lang vận tải, kiểm soát bảo hiểm, kiểm soát năng lượng và kiểm soát quyền can thiệp. Tức là hình thức đã thay đổi, nhưng bản chất của quyền lực thì không đổi bao nhiêu. Ngày xưa muốn giữ lợi ích thì đưa quân vào cửa ngõ thương mại. Hôm nay muốn giữ lợi ích thì dựng khung pháp lý, liên minh chính trị, cơ chế bảo vệ lưu thông và sau đó mới để sức mạnh cứng đứng phía sau. Như vậy, thế giới có thể đang bước vào một phiên bản mới của logic đế quốc, chỉ khác là cách trình bày văn minh hơn, mềm hơn và khó nhìn ra hơn.

Còn một khả năng nữa rất đáng sợ, đó là khủng hoảng này không dừng ở Hormuz mà trở thành tiền lệ cho toàn bộ các nút cổ chai chiến lược khác. Một khi thế giới chấp nhận rằng năng lượng, vận tải và chuỗi cung ứng phải đặt dưới logic an ninh, thì ngày mai câu chuyện đó có thể mở rộng sang eo biển khác, cảng khác, chuỗi chip khác, tuyến cáp khác và cả khoáng sản chiến lược khác. Nói cách khác, Hormuz có thể chỉ là điểm mở đầu cho một giai đoạn mà mọi động mạch của kinh tế toàn cầu đều bị tái định nghĩa dưới góc nhìn quyền lực. Khi đó, toàn cầu hóa như chúng ta từng biết sẽ không biến mất hoàn toàn, nhưng nó sẽ đổi bản chất. Nó không còn là mạng lưới lưu thông trung tính nữa. Nó trở thành mạng lưới lưu thông có thứ bậc, có bảo hộ, có ưu tiên và có trừng phạt.

Nếu kéo sâu hơn vào mặt tài chính, lạm phát năng lượng quay trở lại đúng lúc tăng trưởng đi xuống, khiến các ngân hàng trung ương không còn con đường nào dễ chịu cả. Giữ nguyên lãi suất thì bị chỉ trích là quá chậm. Tăng lãi suất thì đè nặng lên tăng trưởng. Giảm lãi suất thì lại nuôi lạm phát. Khi đó, niềm tin của thị trường vào năng lực kiểm soát chu kỳ của ngân hàng trung ương sẽ bị bào mòn. Và một khi niềm tin đó suy yếu, thị trường trái phiếu sẽ bắt đầu tự đòi phần bù rủi ro cao hơn, đồng tiền biến động mạnh hơn và chi phí vốn toàn cầu bị đẩy lên cao hơn. Như vậy, từ một khủng hoảng địa chính trị, thế giới có thể bị kéo sang một cuộc khủng hoảng niềm tin vào chính sách. Đây mới là đoạn rất nguy hiểm, vì một khi niềm tin đã rạn thì không dễ gì vá lại nhanh được.

Nếu nối tất cả những khả năng đó lại với nhau thì thế giới từ đây có thể không đi tới một vụ nổ duy nhất, mà đi vào một thời kỳ tái cấu trúc kéo dài. Có thể là tái cấu trúc về năng lượng. Có thể là tái cấu trúc về hàng hải. Có thể là tái cấu trúc về vai trò của ngân hàng trung ương. Và cũng có thể là tái cấu trúc về chính tính chính danh của phương Tây trong vai trò bảo vệ trật tự quốc tế. Tóm lại, điều đáng lo không chỉ là giá dầu tăng bao nhiêu hay lãi suất giữ bao lâu. Điều đáng lo là từ Hormuz, thế giới có thể bị kéo sang một giai đoạn mà mọi thứ đều đắt đỏ hơn, nhạy cảm hơn, phân cực hơn và bị chính trị chi phối sâu hơn.