Hôm nay ngày 14 tháng 1 năm 2026 thị trường tài chính quốc tế đang gọi đây là ngày phán quyết. Cách gọi này không phải xuất hiện ngẫu nhiên. Nó đến từ cảm giác chờ đợi rất rõ ràng của giới đầu tư trong suốt nhiều tuần qua. Vậy thì vì sao đến hôm nay thị trường mới gọi đây là ngày phán quyết trong khi các mức thuế quan đã được đưa ra và áp dụng từ năm 2025.
Trong năm 2025 các biện pháp thuế quan được triển khai dựa trên quyền hạn khẩn cấp của Tổng thống theo đạo luật International Emergency Economic Powers Act ban hành từ năm 1977. Khuôn khổ này cho phép nhánh hành pháp hành động nhanh khi bối cảnh được đánh giá là có liên quan tới lợi ích quốc gia. Nhờ cơ chế đó thuế quan có thể đi vào thực tế mà chưa cần trải qua toàn bộ tiến trình lập pháp thông thường.
Nhưng theo thời gian nhiều bang và nhiều doanh nghiệp bắt đầu đặt câu hỏi về nền tảng pháp lý của cách vận dụng quyền hạn này. Họ cho rằng phạm vi khẩn cấp đã được mở rộng vượt khỏi mục tiêu ban đầu của đạo luật. Từ những băn khoăn mang tính pháp lý đó các vụ kiện lần lượt được đưa ra và câu chuyện thuế quan dần dịch chuyển từ không gian chính sách sang không gian tư pháp.
Bài viết này sẽ tập trung phân tích tác động của ngày phán quyết đối với dòng tiền tâm lý thị trường và cách định vị rủi ro trong giai đoạn tiếp theo.
Bối cảnh “ngày phán quyết”
Hiện tại Tòa án Tối cao Mỹ đang thụ lý các hồ sơ liên quan tới tính hợp pháp của những mức thuế quan diện rộng được triển khai theo đạo luật International Emergency Economic Powers Act ban hành từ năm 1977. Các vụ kiện không chỉ đến từ một nhóm doanh nghiệp riêng lẻ mà đến từ nhiều bang và nhiều tập đoàn nhập khẩu lớn.
Ở các cấp tòa trước đó đã từng xuất hiện những phán quyết bất lợi cho phía chính quyền và chính chi tiết này khiến giới đầu tư nhìn sự kiện lần này như một điểm nút thể chế chứ không còn là một tranh luận chính sách thông thường.

Theo thông tin từ Reuters nếu các mức thuế này bị tuyên là không còn cơ sở pháp lý kịch bản hoàn thuế cho các doanh nghiệp nhập khẩu có thể lên tới khoảng 150 tỷ USD. Với nhà đầu tư chuyên nghiệp đây không phải là một con số mang ý nghĩa kế toán đơn thuần.
Đây là một dòng tiền có khả năng xuất hiện trong nền kinh tế thực. 150 tỷ USD tương đương quy mô của một gói tài khóa trung bình. Nếu số tiền này được hoàn trả theo nhiều đợt nó sẽ tác động trực tiếp tới dòng tiền ngắn hạn của khu vực doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thêm dư địa thanh khoản. Doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh tồn kho và chính sách giá bán. Và từ đó kỳ vọng lợi nhuận trong một số ngành sử dụng đầu vào nhập khẩu có thể được điều chỉnh theo hướng tích cực hơn.
Ở chiều ngược lại Bộ Tài chính Mỹ đã chủ động phát đi tín hiệu trấn an. Cơ quan này cho biết kho bạc hiện duy trì lượng tiền mặt khoảng 774 tỷ USD và kỳ vọng con số này có thể tăng lên khoảng 850 tỷ USD vào tháng 3 năm 2026. Khi đặt 150 tỷ USD cạnh hai con số này nhà đầu tư sẽ thấy ngay một bức tranh rõ ràng hơn. Quy mô hoàn thuế tiềm năng tương đương gần 20 phần trăm lượng tiền mặt hiện có của kho bạc và khoảng 17 phần trăm so với mức dự kiến trong vài tháng tới. Đây là tỷ lệ đủ lớn để thị trường phải cân nhắc tác động tới ngân khố. Nhưng cũng là tỷ lệ đủ nhỏ để không tạo ra cảm giác mất kiểm soát thanh khoản trong ngắn hạn.
Chính vì vậy phương án hoàn thuế theo nhiều giai đoạn được đưa ra như một lựa chọn mang tính điều hòa rủi ro. Nó giúp tránh một cú sốc thanh khoản trong một thời điểm duy nhất. Nhưng đổi lại nó kéo dài trạng thái bất định trong trung hạn. Với nhà đầu tư chuyên nghiệp điều này có nghĩa là rủi ro không tập trung vào một ngày duy nhất. Rủi ro nằm trong cả một chuỗi thời điểm nơi mỗi đợt chi trả đều có thể làm thay đổi nhịp tâm lý thị trường.
Như vậy hôm nay ngày 14 tháng 1 năm 2026 được gọi là ngày phán quyết không phải vì xuất hiện thêm một mức thuế mới. Đây là ngày hệ thống tư pháp Mỹ xem xét lại toàn bộ nền tảng pháp lý của cơ chế thuế quan đã vận hành trong suốt năm qua. Và chính khả năng luật chơi có thể được điều chỉnh từ gốc rễ này khiến thị trường buộc phải chuẩn bị trước.
Dữ liệu nền tháng 1/2026: thuế quan đã ở mức nào
Theo tổng hợp của Yahoo Finance mức thuế bình quân của Mỹ vào cuối năm 2025 đã vượt trên 15% trong khi ở đầu năm 2025 con số này chỉ quanh 2.5%. Có thể hiểu đơn giản là mức thuế bình quân đã chuyển từ một khoản chi phí có thể hấp thụ trong biên lợi nhuận sang một khoản chi phí buộc doanh nghiệp phải tái cơ cấu.

Khi thuế tăng lên mức như vậy doanh nghiệp không chỉ điều chỉnh giá bán một lần. Doanh nghiệp phải điều chỉnh nhà cung ứng phải điều chỉnh hợp đồng phải điều chỉnh tồn kho và đôi khi phải điều chỉnh cả kế hoạch đầu tư. Như vậy mặt bằng thuế cao không chỉ tác động lên giá cả mà còn tác động lên tốc độ luân chuyển vốn và cách doanh nghiệp lựa chọn rủi ro.
Có thể có người đặt câu hỏi rằng nếu thuế đã cao như vậy thì thị trường có còn phản ứng mạnh hay không. Thực ra thị trường vẫn phản ứng mạnh vì phản ứng không nằm ở con số tuyệt đối. Phản ứng nằm ở việc con số đó có còn bền vững hay không. Khi mặt bằng thuế đã vượt 15% thuế quan trở thành một biến số nền tảng trong cách thị trường định giá lợi nhuận tương lai.
Nếu nền tảng đó bị lung lay thì định giá của tài sản rủi ro sẽ phải tự điều chỉnh lại. Đây là lý do vì sao phần dữ liệu nền này có vai trò như một mảnh ghép nhận thức để dẫn sang câu chuyện phán quyết.

Riêng với Trung Quốc câu chuyện còn có thêm một vấn đề cần quan sát. Thỏa thuận Trump và Tập vào cuối tháng 10 năm 2025 đã đưa mức thuế hiệu dụng lên hàng hóa Trung Quốc từ 57% xuống 47% và thỏa thuận này được gắn với các cam kết liên quan tới fentanyl cùng một số điều khoản thương mại song phương. Nhiều người nghe tới con số giảm từ 57 xuống 47 thì có thể nghĩ đây là một bước ngoặt. Nhưng nếu nhìn bằng thước đo của nhà đầu tư chuyên nghiệp thì 47% vẫn là một mặt bằng thuế rất cao.
Như vậy điều quan trọng không nằm ở nhịp hạ mà nằm ở mặt bằng còn lại. Khi thuế vẫn ở vùng cao doanh nghiệp vẫn phải duy trì trạng thái phòng vệ về chuỗi cung ứng và thị trường vẫn phải định giá rủi ro thương mại như một phần của bối cảnh dài hạn.
Địa chính trị ngay trước phán quyết
Khi thị trường bước vào những ngày ngay trước phán quyết một tín hiệu rất đáng chú ý xuất hiện từ phía chính quyền ông Trump đó là tuyên bố về khả năng áp mức thuế 25% đối với các quốc gia có quan hệ thương mại với Iran. Ở bề mặt đây có thể được hiểu như một biện pháp kinh tế. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn có thể thấy đây không còn là câu chuyện thuế quan theo nghĩa thông thường. Đây là một hình thức gây sức ép mở rộng nơi thuế quan được sử dụng như một công cụ trừng phạt gián tiếp đối với bên thứ ba.

Có thể hiểu đơn giản là thế này. Khi một quốc gia bị trừng phạt trực tiếp các đối tác thương mại của quốc gia đó thường vẫn còn không gian xoay xở. Nhưng khi biện pháp thuế quan được áp lên chính các đối tác đó không gian lựa chọn lập tức bị thu hẹp. Với mức thuế 25% bài toán không còn là có nên giao thương với Iran hay không. Bài toán chuyển thành việc có đủ khả năng hấp thụ chi phí phát sinh trong chuỗi cung ứng hay không và khi chi phí này được đẩy sang khu vực doanh nghiệp nó sẽ nhanh chóng đi vào giá thành sản phẩm đi vào biên lợi nhuận và cuối cùng đi vào quyết định đầu tư.
Ở thời điểm này Trung Quốc đã phát tín hiệu rõ ràng rằng họ sẽ có phản ứng nếu bị cuốn vào vòng xoáy thuế quan kiểu này. Với nhà đầu tư chuyên nghiệp đây không phải là một tuyên bố ngoại giao mang tính hình thức. Đây là dấu hiệu cho thấy rủi ro trả đũa thương mại có thể quay trở lại không theo tuyến song phương truyền thống mà theo tuyến lan tỏa qua các mạng lưới thương mại và tài chính toàn cầu.
Nhìn chung điều mà thị trường nhận ra ngay trước ngày phán quyết không nằm ở con số 25%. Điều nằm ở cách thức sử dụng thuế quan. Thuế quan trong bối cảnh này không còn là một công cụ điều chỉnh cán cân thương mại thuần túy. Thuế quan đã được kéo sang vai trò của một đòn bẩy đối ngoại. Và khi công cụ kinh tế bắt đầu mang chức năng chính trị mỗi quyết định pháp lý liên quan tới thuế quan đều mang theo hệ quả vượt khỏi phạm vi thương mại.
Có thể có người đặt câu hỏi rằng vì sao điều này lại quan trọng đến vậy trong lúc tòa án đang xem xét nền tảng pháp lý của các biện pháp thuế. Thực ra chính ở đây xuất hiện một mảnh ghép nhận thức rất đáng lưu ý. Khi khuôn khổ pháp lý của cơ chế thuế quan hiện tại đứng trước khả năng bị thu hẹp nhánh hành pháp có động cơ rất rõ ràng để tìm kiếm những con đường hợp pháp khác nhằm duy trì hiệu lực của các công cụ gây sức ép.
Thuế quan nhắm vào các đối tác của Iran chính là một ví dụ cho cách chuyển hướng này. Nó cho thấy khi một cánh cửa pháp lý có khả năng khép lại một cánh cửa khác có thể được mở ra bằng một cơ chế khác và điều đó khiến trạng thái bất định của thị trường không giảm đi mà có nguy cơ kéo dài hơn.
Dòng tiền đang ở đâu
Trước phán quyết: thị trường sẽ đặt cược vào 3 thứ
Trước khi đi vào phần chiến lược cụ thể bài viết cần một khung dòng tiền đủ rõ để người đọc cảm nhận được cách thị trường Wall Street thường chuẩn bị trước một sự kiện mang tính thể chế như ngày phán quyết. Có thể hiểu đơn giản là thế này. Khi luật chơi có khả năng đổi hướng nhà đầu tư chuyên nghiệp thường không đặt cược vào một kịch bản duy nhất. Họ chia trạng thái danh mục theo các lớp bảo toàn rủi ro và họ để cho giá cả tự xác nhận kịch bản nào đang thắng thế. Một lớp là phòng vệ cho tail risk. Một lớp là ngoại hối phòng thủ với hai kịch bản đối xứng. Một lớp là vàng và hàng hóa với vai trò kép vừa trú ẩn vừa nhạy với chính sách thuế và địa chính trị.
Trục thứ nhất là lớp phòng vệ cho Tail risk hedge. Nhiều khi thị trường không sợ kịch bản xấu nhất vì xác suất cao. Thị trường sợ kịch bản xấu nhất vì nếu nó xảy ra thì biên độ dao động có thể vượt khỏi vùng mà danh mục chịu được. Vì vậy trước ngày phán quyết dòng tiền thường xuất hiện nhu cầu phòng vệ cho những cú biến động bất ngờ.
Một nhóm sản phẩm mà nhà đầu tư tổ chức sử dụng đúng nghĩa để phòng vệ biến động là các ETF/phái sinh gắn với chỉ số biến động VIX (Cboe Volatility Index). Đây là sản phẩm có thể mua được trên thị trường như ProShares VIX Short-Term Futures ETF (mã VIXY).
VIXY là ETF vận hành bằng cách nắm giữ các hợp đồng tương lai VIX ngắn hạn nhằm phản ánh kỳ vọng biến động thị trường trong ngắn hạn. Các quỹ phòng hộ và nhà đầu tư tổ chức thường mua VIXY khi họ muốn bảo vệ danh mục khỏi cú sốc bất ngờ trong chỉ số rộng như S&P 500.

Số liệu mà ta có thể theo dõi rõ hơn là khối lượng mở (open interest) và dòng vốn ETF VIXY trong những tuần gần đây. Khối lượng mở hợp đồng tương lai VIX (VIX futures) và quyền chọn VIX đã tăng lên đáng kể so với bình quân nhiều tháng trước, phản ánh các nhà quản lý rủi ro đang chấp nhận vị thế dài trên sản phẩm biến động.

Theo ghi nhận từ các báo cáo thị trường, khoảng 40% tổng khối lượng mở hợp đồng tương lai VIX hiện thuộc về các ETP/ETN liên quan tới VIX, điều này cho thấy dòng vốn lớn không chỉ là cá nhân nhỏ lẻ mà đã đến từ các tổ chức chuyên nghiệp chấp nhận sản phẩm này để phòng vệ biến động.
Ngoài ETF như VIXY, một số quỹ đầu tư phi truyền thống (hedge funds) cũng đang gia tăng vị thế phòng vệ rủi ro bằng cách mua các quyền chọn sâu ngoài tiền (deep out-of-the-money puts/calls) trên chỉ số S&P 500 và chỉ số biến động VIX. Theo các nguồn phân tích chiến lược hedge funds, nhiều tổ chức đã bổ sung các chiến lược “volatility convexity” vào danh mục để đối phó với rủi ro biến động trong năm 2026.
Một quỹ quản lý lớn như Union Investment, một trong những nhà quản lý tài sản lớn nhất châu Âu với quy mô tài sản hàng trăm tỷ đô la, đã công bố thêm chiến lược liên quan đến việc bán S&P option và mua VIX call nhằm tăng khả năng phòng vệ biến động trong danh mục chiến lược thay thế.
Trục thứ hai là ngoại hối phòng thủ và ở đây cần đi bằng kịch bản vì không có một chiều đúng cho mọi hoàn cảnh. Một kịch bản là USD được mua vì nhu cầu thanh khoản và phòng vệ.
Dữ liệu rõ nhất để đọc hành vi tổ chức ở thị trường ngoại hối là báo cáo COT của CFTC theo nhóm leveraged funds và asset managers. Trong các tuần cuối cùng trước phán quyết số liệu cho thấy leveraged funds đã gia tăng vị thế long USD Index futures trên sàn ICE, trong khi asset managers giảm bớt vị thế short USD so với giai đoạn cuối năm trước. Điều này cho thấy dòng tiền phòng thủ không chỉ đến từ trader ngắn hạn mà đến từ các quỹ quản lý tài sản dài hạn đang điều chỉnh trạng thái để tăng tính thanh khoản danh mục.

Sản phẩm tài chính cụ thể mà dòng tiền tổ chức đang sử dụng ở đây là hợp đồng tương lai Dollar Index (DX futures) và ETF theo dõi USD. Trên thị trường ETF hai sản phẩm được dùng nhiều nhất là Invesco DB US Dollar Index Bullish Fund (mã UUP) và Invesco DB US Dollar Index Bearish Fund (mã UDN). Trong các tuần đầu tháng một dòng tiền ghi nhận inflow ròng vào UUP trong khi UDN bị rút vốn, phản ánh rất rõ rằng nhà đầu tư tổ chức đang mua USD chứ không phải bán USD trong giai đoạn bất định thể chế.

Ở tầng quỹ lớn có thể nhìn thấy rõ hơn qua các báo cáo phân bổ tài sản. BlackRock trong các bản cập nhật phân bổ ngắn hạn đầu năm 2026 đã nhấn mạnh việc tăng tỷ trọng tiền mặt và tài sản định giá bằng USD trong các danh mục toàn cầu để duy trì tính linh hoạt trước các rủi ro chính sách. JPMorgan Asset Management cũng công bố chiến lược tương tự khi khuyến nghị khách hàng tổ chức duy trì overweight USD cash và T-bill trong ngắn hạn như một lớp đệm thanh khoản cho các kịch bản pháp lý chưa ngã ngũ.

Với giới hedge fund dòng tiền càng thể hiện rõ hơn ở thị trường phái sinh. Brevan Howard và Millennium Management là hai tổ chức thường xuyên được giới phân tích dẫn lại khi nói về giao dịch macro ngắn hạn. Trong các báo cáo chiến lược đầu tháng một hai quỹ này đều nhấn mạnh trạng thái giữ USD như một vị thế trung gian thay vì đặt cược mạnh vào các đồng tiền nhạy cảm thương mại như CNY AUD KRW. Điều này cho thấy USD đang được dùng không phải như một khoản đầu tư sinh lời mà như một công cụ giữ nhịp danh mục trong lúc thị trường chờ phán quyết.
Khi kỳ vọng hạ nhiệt thương mại hình thành dòng tiền có thể rời khỏi trạng thái phòng thủ và quay lại tìm kiếm lợi suất ở những khu vực đã bị kìm bởi thuế quan. Trong kịch bản đó USD có thể bị bán như một phản ứng tái cân bằng chứ không phải vì xuất hiện rủi ro suy yếu nền tảng.
Như vậy điểm mấu chốt không nằm ở việc chọn ngay một hướng. Điểm mấu chốt nằm ở việc theo dõi xem thị trường đang mua USD vì phòng vệ hay đang bán USD vì định giá lại câu chuyện chính sách.
Trục thứ ba là vàng và hàng hóa. Ở giai đoạn ngay trước phán quyết vàng và hàng hóa không còn được nhìn như một nhóm tài sản chung chung. Thị trường đang phân tầng rất rõ giữa vàng dạng ETF cổ phiếu khai thác vàng và nhóm năng lượng để lựa chọn mức độ rủi ro phù hợp.

Trước hết là lớp vàng dạng ETF vì đây là nơi dòng tiền trú ẩn đi vào nhanh nhất và dễ đo nhất. Sản phẩm cụ thể là GLD của State Street Global Advisors. Trong 1 tháng gần nhất GLD ghi nhận dòng vốn vào khoảng 2.170.000.000 USD. Cùng thời điểm đó IAU của BlackRock cũng có dòng vốn vào khoảng 865.560.000 USD.
Khi hai ETF lớn nhất của thị trường vàng cùng hút tiền trong một khoảng thời gian ngắn điều này cho thấy nhà đầu tư tổ chức đang chủ động tăng lớp bảo toàn giá trị trước rủi ro thể chế.

Từ vàng vật chất hóa qua ETF chuyển sang lớp cổ phiếu khai thác vàng bức tranh dòng tiền cho thấy một lựa chọn có tính chọn lọc. Sản phẩm cụ thể là GDX của VanEck ghi nhận dòng vốn vào khoảng 525.520.000 USD trong cùng giai đoạn. Trong khi đó GDXJ cũng của VanEck lại ghi nhận dòng vốn ra khoảng 16.180.000 USD.
Hai con số này đặt cạnh nhau giúp người đọc hiểu ngay hành vi của nhà đầu tư chuyên nghiệp. Tiền không rời khỏi câu chuyện vàng. Tiền chỉ chuyển từ lớp rủi ro cao hơn sang lớp rủi ro thấp hơn trong cùng một chủ đề. Các công ty khai thác quy mô lớn được chọn nhiều hơn vì khả năng chịu biến động tốt hơn trong khi nhóm junior miners bị giảm tỷ trọng để tránh những dao động có thể gây mệt mỏi cho danh mục ngay trước sự kiện lớn.

Sang tới nhóm năng lượng hành vi dòng tiền lại khác vì ở đây thị trường không đặt cược một chiều. Với nhóm cổ phiếu năng lượng sản phẩm cụ thể là XLE của State Street ghi nhận dòng vốn ra khoảng 18.010.000 USD trong 1 tháng. Con số này so với quy mô của XLE cho thấy trạng thái gần như trung tính.
Thị trường không vội bán tháo nhưng cũng không vội mua vào mạnh. Ở lớp hàng hóa năng lượng bức tranh phân hóa rõ hơn. USO đại diện cho dầu WTI ghi nhận dòng vốn ra khoảng 15.610.000 USD. Trong khi đó BNO đại diện cho dầu Brent lại ghi nhận dòng vốn vào khoảng 2.790.000 USD. Hai con số này tuy không lớn về tuyệt đối nhưng lại rất có giá trị về mặt diễn giải.
Dòng tiền không lao vào dầu theo kiểu đầu cơ giá ngắn hạn. Dòng tiền nghiêng nhẹ về Brent vì Brent gắn trực tiếp hơn với câu chuyện nguồn cung toàn cầu và rủi ro địa chính trị. Nếu đặt trong bối cảnh Iran thì lựa chọn này có logic rất rõ ràng.

Ở góc nhìn quản trị rủi ro còn có một mảnh ghép nữa cần nói tới là chi phí phòng vệ trên vàng. Chỉ số biến động của vàng GVZ đang quanh mức 25 cho thấy thị trường sẵn sàng trả phí để bảo vệ vị thế vàng trước những cú dao động bất ngờ. Đồng thời cấu trúc quyền chọn của GLD cho thấy tỷ lệ put call open interest quanh mức 0.5 phản ánh nhu cầu mua quyền chọn bảo vệ vẫn duy trì. Hai tín hiệu này đi cùng với dòng vốn ETF giúp người đọc hiểu rằng thị trường không chỉ mua vàng vì kỳ vọng giá lên. Thị trường mua vàng và đồng thời mua cả sự chắc chắn cho kịch bản rủi ro.
Nếu đặt tất cả những con số này vào một khung chung thì hành vi của tổ chức lớn hiện ra khá rõ. Ở lớp bảo toàn giá trị họ mua GLD và IAU với quy mô hàng tỷ đô la. Ở lớp rủi ro trung bình họ mua GDX nhưng giảm bớt GDXJ để hạ biên độ dao động. Ở lớp năng lượng họ không đặt cược mạnh vào cổ phiếu ngành mà chọn nghiêng nhẹ về dầu Brent qua BNO như một cách phòng vệ địa chính trị hơn là đầu cơ giá.
Đây là cấu trúc dòng tiền không tìm kiếm lợi nhuận cực đoan. Nó tìm kiếm sự cân bằng giữa bảo toàn giá trị và duy trì khả năng phản ứng nhanh khi kịch bản pháp lý ngã ngũ.
3 kịch bản phán quyết và phản ứng thị trường
Ba mảnh ghép để ước lượng phản ứng sau phán quyết. Mảnh ghép thứ nhất là biên độ ngày theo VIX. VIX 15.98 tương đương độ lệch chuẩn một ngày khoảng 1 phần trăm cho chỉ số cổ phiếu lớn. Mảnh ghép thứ hai là expected move ngắn hạn từ quyền chọn đang quanh 0.4 phần trăm cho chính ngày có tin. Mảnh ghép thứ ba là SKEW ở vùng cao nên mình để biên độ kịch bản xấu rộng hơn kịch bản tốt. Từ ba mảnh ghép này mình đi ra các vùng giá cụ thể cho từng sản phẩm trong một ngày giao dịch sau khi phán quyết được công bố.
Trước hết là kịch bản giữ nguyên thuế quan. Ở đây bất định pháp lý được tháo bớt nhưng bất định thương mại vẫn còn hiện diện. Dòng tiền trong trường hợp này thường không đảo chiều mạnh mà chỉ dịch chuyển nhẹ theo hướng giảm bớt phòng vệ.
– Với SP500 phản ứng hợp lý là nhích lên từ vùng 6958 lên vùng 6990 đến 7040. Điều kiện để thị trường giữ được vùng trên là chỉ số biến động hạ rõ rệt để xác nhận rằng nhu cầu mua bảo hiểm đã giảm đi.
– Với EURUSD trong bối cảnh USD vẫn giữ vai trò thanh khoản cặp tiền này có xu hướng đi ngang đến giảm nhẹ từ 1.1645 về vùng 1.160 đến 1.167. Với USDJPY vì USD giữ nhịp và lợi suất không giảm sâu nên cặp này có xu hướng nhích lên từ 159.19 lên vùng 159.5 đến 160.3.
– Với XAUUSD lớp phòng vệ có thể chốt lời từng phần nên giá hợp lý dao động trong vùng 4560 đến 4700 so với mốc nền 4621. Với XTIUSD nếu không có leo thang địa chính trị mới thì nhịp phòng vệ trên dầu có thể xẹp bớt và giá hợp lý nằm trong vùng 58 đến 61 so với mốc nền 59.5.
Kịch bản thứ hai là gỡ thuế. Ở đây logic dòng tiền đổi quỹ đạo rõ hơn nhưng vẫn nối liền với trạng thái phòng vệ đã hình thành từ trước. Nhịp đầu thường là nhịp giải phóng tâm lý.
– Với SP500 phản ứng hợp lý là bật lên từ 6958 lên vùng 7040 đến 7120. Điều kiện để giữ được vùng trên là chỉ số USD không bật lại quá nhanh để tránh kéo dòng tiền quay về trạng thái phòng thủ.
– Với EURUSD trong bối cảnh USD bị bán vì nhu cầu phòng vệ giảm cặp tiền này có xu hướng hồi từ 1.1645 lên vùng 1.174 đến 1.185. Với USDJPY vì USD suy yếu trong khi tâm lý rủi ro cải thiện nên cặp này có xu hướng hạ từ 159.19 về vùng 157.5 đến 158.6.
– Với XAUUSD nhịp đầu có thể bị chốt lời vì vai trò trú ẩn giảm và giá hợp lý nằm trong vùng 4450 đến 4550 so với mốc nền 4621. Với XTIUSD khi kỳ vọng tăng trưởng được củng cố giá dầu thường được hỗ trợ từ 59.5 lên vùng 61 đến 63. Tuy nhiên ở kịch bản này cần giữ một mảnh ghép nhận thức rất quan trọng. Sau nhịp đầu thị trường sẽ quay lại câu hỏi hoàn thuế khoảng 150B và cách Treasury xử lý theo thời gian.
Nếu câu chuyện phát hành bù xuất hiện thì lợi suất có thể đảo chiều và USD có thể hồi lại vì nhu cầu thanh khoản quay trở lại. Có thể hiểu đơn giản là nhịp hưng phấn có thể đến nhanh nhưng độ bền còn phụ thuộc vào cách chính sách tài khóa và tiền tệ phối hợp sau đó.
Kịch bản thứ ba là phán quyết hẹp. Đây là kịch bản khiến thị trường mệt mỏi nhất vì bất định thể chế không được tháo gỡ mà còn kéo dài thêm. Trạng thái phòng vệ vì vậy không những giữ lại mà còn có xu hướng tăng thêm.
– Với SP500 phản ứng hợp lý là chịu áp lực từ 6958 lùi về vùng 6800 đến 6920. Điều kiện để chạm vùng dưới là chỉ số biến động tăng lên để xác nhận rằng phí rủi ro đang được đẩy cao hơn.
– Với EURUSD trong bối cảnh USD được mua vì nhu cầu thanh khoản cặp tiền này có xu hướng lùi từ 1.1645 về vùng 1.150 đến 1.162. Với USDJPY vì USD mạnh lên do nhu cầu phòng thủ nên cặp này có xu hướng tiến từ 159.19 lên vùng 160.5 đến 162.0.
– Với XAUUSD bất định thể chế kéo dài nên vàng thường giữ vai trò bảo toàn giá trị và giá hợp lý nằm trong vùng 4700 đến 4860. Với XTIUSD mình tách thành hai nhánh để tránh nói chung chung. Nếu không có leo thang Iran mới thì lo lắng tăng trưởng chiếm ưu thế và giá hợp lý nằm trong vùng 57 đến 60. Nếu có leo thang Iran rõ rệt thì rủi ro nguồn cung thắng thế và giá hợp lý chuyển sang vùng 62 đến 65.
| Tài sản | Giá nền 14 01 2026 | Giữ thuế quan | Gỡ thuế | Phán quyết hẹp |
|---|---|---|---|---|
| SP500 | 6958 | 6990 đến 7040 | 7040 đến 7120 | 6800 đến 6920 |
| EURUSD | 1.1645 | 1.160 đến 1.167 | 1.174 đến 1.185 | 1.150 đến 1.162 |
| USDJPY | 159.19 | 159.5 đến 160.3 | 157.5 đến 158.6 | 160.5 đến 162.0 |
| XAUUSD | 4621 | 4560 đến 4700 | 4450 đến 4550 | 4700 đến 4860 |
| XTIUSD | 59.5 | 58 đến 61 | 61 đến 63 | 57 đến 60 hoặc 62 đến 65 |
